mercredi 18 mars 2009

Francisco Xavier

Francisco Xavier
(*1506 - †1552)


#697. 200 escudos đúc năm 1997


***************


Tượng đài Thánh Francisco Xavier


Thánh Francisco Xavier sinh ngày mồng 7 tháng tư 1506 tại Javier, gần Pampelune thuộc Vương quốc Navarre, tạ thế ngày mồng 3 tháng chạp 1552 ở đảo Sancian, ngoài khơi tỉnh Quảng-đông, Trung-quốc. Ông là nhà truyền giáo dòng Tên và được các tín đồ Thiên chúa giáo La-mã cũng như Anh giáo công nhận là một vị thánh. Mồng 3 tháng chạp hằng năm là ngày lễ của vị thánh này. Theo Giáo hội Công giáo La-mã, ông là người có công thuyết phục được nhiều người theo Kitô giáo hơn bất cứ ai khác kể từ thời Thánh Phaolô (Saint Paul).
Francisco Xavier từng theo học môn thần học tại Sorbonne và tá túc ở collège Sainte-Barbe. Chính tại nơi này ông đã gặp Pierre Favre và Ignace de Loyola rồi cùng họ tham gia thành lập Đoàn Giê-su (la Compagnie de Jésus) vào năm 1534.
Hết lòng với việc Chúa, ông được phong linh mục năm 1537. Theo yêu cầu của vua João đệ tam nước Bồ-đào-nha, vào năm 1540, giáo hoàng Paul III đã phái ông sang các xứ Đông Ấn để truyền bá Phúc âm cho người dân ở đó. Ông lên tàu tháng tư 1541 và cập bờ tại Goa, lúc đó là thuộc địa của Bồ-đào-nha, ngày mồng 6 tháng năm 1542. Tại xứ Đông Ấn, đặc biệt ở Goa, ông đã tiến hành nhiều đợt cải đạo hết sức thành công. Francisco Xavier cũng đã sang tận Đài-loan.
Mặc dù là vị cha đạo dòng Tên đầu tiên có mặt ở Ấn-độ, ông đã mắc phải những sai lầm nghiêm trọng, điều này khiến cho các chuyến đi truyền giáo không được hoàn toàn mĩ mãn. Francisco Xavier đã thiếu tôn trọng với đạo Hindou. Thay vì kết hợp Thiên chúa giáo với Hindou giáo và từ đó làm các tín đồ dần dần muốn cải đạo, ông lại muốn có sự thay đổi nhanh chóng. Ông truyền bá đức tin trong tầng lớp người nghèo. Những người đi sau ông như de Nobili, Ricci và Beschi đã rút được bài học từ sai lầm của Francisco, và họ cố gắng cải đạo cho giai cấp quí tộc trước, việc làm này nhằm mục đích gây ảnh hưởng đến nhiều người hơn nữa.
Năm 1545, ông lên đường đi Malacca và từ đó ông sang Moluques. Tại quần đảo này, ông đã gây dựng các cơ sở truyền giáo ở Ambon, Morotai và Ternate trong hai năm 1546, 1547. Tháng chạp 1547, tại Malacca, ông đã gặp Anjiro, một quí tộc Nhật-bản người vùng Kagoshima. Vị này khiến ông nảy ra ý tưởng truyền bá Phúc âm cho xứ Phù-tang. Ngày 27 tháng bảy 1549, Francisco Xavier tới Nhật-bản song mãi đến 15 tháng tám, ông mới lên bờ ở Kagoshima, hải cảng chính của tỉnh Satsuma trên đảo Kyushu. Ông được tiếp đón thân tình và được gia đính Anjiro nuôi ăn ở đến tháng mười 1550. Từ tháng mười đến tháng chạp cùng năm, ông cư ngụ tại Yamaguchi. Trước Giáng sinh không lâu, ông rời nơi đó đi Kyoto nhưng không gặp được Hoàng đế. Francisco Xavier quay lại Yamaguchi vào tháng ba 1551 và được chính quyền địa phương cho phép giảng đạo. Tuy nhiên, do không thạo tiếng Nhật, ông chỉ có thể đọc to bản dịch một cuốn sách dạy giáo lí đạo Chúa. Nhà truyền giáo này có ảnh hưởng to lớn ở Nhật-bản. Ông là cha đạo dòng Tên đầu tiên đến xứ sở này. Ông mang theo nhiều tranh Đức Mẹ, Đức Mẹ và Chúa hài đồng, và dùng chúng để giảng dạy Thiên chúa giáo cho người Nhật-bản.
Francisco Xavier mất năm 1552 sau khi ngã bệnh trong chuyến hành trình bằng tàu từ Malacca đến đảo Sancian. Thi hài ông hiện đang yên nghỉ ở nhà thờ Đức Giê-su nhân từ, Goa (Ấn-độ). Từ năm 1614, cánh tay phải của ông được cất giữ trong hòm thánh tích của nhà thờ Chúa Giê-su (Roma), đây là nhà thờ chính của Đoàn Giê-su.
Theo wikipedia

samedi 14 mars 2009

Historia de Japam

Chuyện xứ Phù-tang



#698. 200 escudos đúc năm 1997




******

Đức cha Luís Fróis (sinh năm 1532 tại Lisbonne, mất năm 1597 tại Nagasaki) là nhà truyền giáo dòng Tên. Ông là một trong số những người Tây-phương đầu tiên đặt chân lên đất Nhật-bản. Năm 1563, ông đến đất nước mặt trời mọc để truyền bá đức tin, tiếp bước Francisco Xavier, người đã ở xứ sở này từ năm 1549. Một năm sau, ông đến Kyoto và tiếp kiến Ashikaga Yoshiteru, vị tướng quân (shogun) vào thời gian đó. Năm 1569, Luís Fróis kết thân với Oda Nobudaga và sống tại tư dinh của vị này ở Gifu trong một thời gian ngắn khi ông đang viết sách. Trong khoảng ba chục năm sống tại đây, ông đã đi thăm thú nhiều nơi, điều này giúp ông nắm vững phong tục của người Nhật. "Chuyện xứ Phù-tang" (Historia de Japam) là một tác phẩm nổi tiếng của Luís Fróis.

******


Về chữ viết tắt IHS trên đồng xu



Ấn tín của dòng Tên. "IHS" là 3 chữ đầu của "IHΣOYΣ", "Giêsu" trong tiếng Hi-lạp. Về sau được giải thích như "Iesus Hominum Salvator" ("Giêsu đấng Cứu chuộc nhân loại") hoặc "Iesum Habemus Socium" ("Chúng ta có Giêsu là Bạn hữu")

Tham khảo từ trang này

mercredi 11 mars 2009

Parle plus bas

Hỏi nhỏ
1977 & Đông-dương thuộc Pháp

Cơ quan Khí tượng Hoàng-gia Anh tại Cửu-long, Hồng-công gửi lá thư này sang Việt-nam ngày 14 tháng năm 1977. Có một điều khó hiểu là đến thời điểm đó mà họ vẫn đề địa chỉ người nhận

"The Director

Service Met. de l'Indochine

Saigon,

Indochine Française."

Chẳng lẽ đến năm 1977, người Anh vẫn cho rằng Đông-dương thuộc về nước Pháp? Ai có thể giải thích giúp tôi thắc mắc này được không? Xin cảm ơn trước.

*******

Xem Patrick Fiori hát Parle plus bas .
Nghe Patrick Fiori hát bài này
Nghe Tino Rossi hát bài này
Xem Dalida hát bài này

Porto Santo

Ilha Doudara



#647. 100 escudos đúc năm 1989



**************


Porto Santo là hòn đảo đông dân thứ nhì thuộc quần đảo Madeira của Bồ-đào-nha trên Đại-tây-dương. Hòn đảo này cách đảo chính Madeira 50 cây số về hướng đông-bắc. Porto Santo còn được mệnh danh là "Đảo Vàng óng" (Ilha Doudara) do phong cảnh mang sắc màu hoang vắng và dải bờ biển toàn cát vàng óng ả. Hòn đảo này được hình thành từ núi lửa cách đây hàng triệu năm. Điểm cao nhất ở Porto Santo là Pico de Facho (Đỉnh của Ngọn đuốc) đạt 541 mét. Dân số ước tính khoảng hơn 4500 người sống trên một diện tích 43 cây số vuông. Thành phố chính là Vila Baleira.
Hòn đảo này sống chủ yếu dựa vào ngành du lịch, với một bãi biển dài trên 7 km toàn cát trắng mịn và khí hậu rất dễ chịu. Hoạt động du lịch ở đây phát triển rất nhanh, đặc biệt tại bờ biển phía nam.
Nhà hàng hải João Gonçalves Zarco nhân danh nước Bồ-đào-nha đã chiếm hữu hòn đảo này năm 1419 (trên thực tế, nó đã xuất hiện trên một tập atlas của nước Ý từ thế kỉ XIV), và ông đặt tên cho nó là đảo Porto Santo (Bến cảng Thánh thần) vì có lẽ ông tìm được chỗ trú chân ở đó sau một trận bão biển. Christophe Colomb cũng từng sống trên đảo này và kết hôn với Filipa Moniz, con gái của vị chúa đảo đầu tiên là Bartolomeu Perestrelo. Họ có với nhau một người con trai là Diego Colomb.
Theo wikipedia

dimanche 8 mars 2009

Hélas, des crachins ont été de retour!

Ga Hà nội


214 - HANOI - Nhà Ga (Mặt tiền phía đông)
Collection R.Moreau, Hanoï
Mấy phu xe đang ở đầu Boulevard Gambetta - Phố Trần Hưng Đạo
************
Gửi từ Việt trì ngày 22 tháng chín 1905
Đến Mornant, Aries Lyon - Rhône ngày mồng 1 tháng mười một 1905
************


Léon Gambetta (*1838 - †1882)(tác phẩm khắc a-xít của Richard Brend'amour)
Gambetta là một chính trị gia Pháp theo phái cộng hoà. Ông từng đảm nhiệm các chức vụ Thủ tướng và Bộ trưởng Ngoại giao Pháp.
Có thể tìm hiểu thêm về nhận vật này ở đây

dimanche 1 mars 2009

J'espère te rejoindre un jour

Rue Paul Bert - Phố Tràng tiền

Hanoï - Rue Paul Bert
Hôtel et Café de la Paix.
Khách sạn và Hàng Cà-phê Hoà-bình


Chiếc thiếp trên nằm trong một loạt các bưu ảnh mà một quân nhân đã viết trong thời gian anh lưu trú tại Đông-dương. Chúng được anh gửi đi trong suốt hành trình và thời gian lưu trú ở mỗi miền đất (Hà-nội, Huế, Sài-gòn). Tất cả đều được đánh số thứ tự và đề ngày tháng.
Cette carte issue d'une série écrite par un militaire ayant séjourné en Indochine. Les cartes ont été expédiées durant son trajet et son séjour. Elles sont toutes numérotées et datées

N° 205. Hanoï, le 8/9/50
En souvenir de cette ville d'Indochine, voiçi la Rue Paul Bert dont je passe tous les matins devant cet hôtel.
Reçois, ma petite femme chérie les plus doux et tendres baisers de ton petit mari qui t'aime à la vie.
Bons Baisers

mercredi 25 février 2009

Diogo Cão

Diogo Cão
(*1450 - †1486)


#641. 100 escudos đúc năm 1987



**********


Diogo Cão là một nhà thám hiểm người Bồ-đào-nha. Ông đã thực hiện hai cuộc hành trình dọc theo bờ biển trông ra Đại-tây-dương của châu Phi. Vốn con nhà lính, ông tham gia hải quân lúc mới mười bốn tuổi. Diogo trở thành thuyền trưởng năm 1480. Ban đầu, ông có nhiệm vụ bảo đảm an ninh cho các thương điếm của Bồ-đào-nha tại vùng lãnh hải châu Phi.

Trong chuyến đi thứ nhất của mình (1482-1483), Diogo Cão được vua João đệ nhị của Bồ-đào-nha giao nhiệm vụ tiếp tục khám phá các dải bờ biển của châu Phi. Ông mang theo Padrão đầu tiên, đây là một loại cột mốc ở trên đỉnh có khắc chữ thập, để đánh dấu những lãnh thổ mà vua Bồ-đào-nha đã chinh phục được. Tại cửa sông Congo, năm 1483, Diogo Cão khẳng định rằng ông đã cắm Padrão đầu tiên. Ông liên lạc với vương quốc Kongo và được biết có một vương quốc hùng mạnh nằm sâu trong lục địa. Ông cử một số sứ giả đi vì cho rằng đó là vương quốc nổi tiếng của giáo sĩ Jean. Sau đó, ông tiếp tục hành trình dọc theo bờ biển châu Phi về hướng nam, đến tận Mũi Sainte-Marie tại Angola ở vị trí 13° thuộc vĩ độ nam. Ở đó, ông đã trồng cột mốc thứ nhì. Diogo Cão là người châu Âu đầu tiên có chuyến đi xa đến như vậy ở bán cầu nam. Tháng tư 1484, ông trở về Lisboa và đươc vua João đệ nhị phong tước hiệp sĩ (cavaleiro).

Trong cuộc hành trình thứ hai (1485-1486), ông còn đi xa hơn nữa xuống phía nam, đến tận Mũi Thập-tự ở Namibie và ông cũng cắm một cột mốc mới. Ông ngược dòng sông Congo vì xem nó là con đường dẫn tới vương quốc của giáo sĩ Jean. Kết quả là Diogo Cão đã đi đến vùng phụ cận Matadi. Dân Kongo dùng từ nzadi hay nzere để chỉ con sông này. Kể từ đó, người Bồ-đào-nha lấy tên Zaire (hay Zaïre trong tiếng Pháp).