mardi 31 mars 2009

Khôi phục Độc lập

A Restauração da Independência Portuguesa



#651. 100 escudos đúc năm 1990


*******

Dom Alfonso Henriques, vị vua đầu tiên của Bồ-đào-nha

Nền độc lập của Bồ-đào-nha bị gián đoạn trong sáu chục năm, từ 1580 đến 1640. Nguyên do là vua Sébastien đệ nhất (Dom Sebastião) qua đời nhưng không có con nối dõi, Philippe đệ nhị của Tây-ban-nha đã chiếm ngai vàng và trở thành Philippe đệ nhất của Bồ-đào-nha. Mặc dù Bồ-đào-nha không chính thức bị mất nền độc lập, song vương quốc này được cai trị bởi một ông vua Tây-ban-nha và một liên hiệp các vương quốc được hình thành; Năm 1640, Jean đệ tứ (João IV) lãnh đạo một cuộc nổi dậy được những quí tộc mang tâm trạng bất mãn hậu thuẫn và ông được phong làm vua.

Theo wikipedia

lundi 30 mars 2009

La vie quotidienne

Bác lái lợn

22. TONKIN - Hanoi
Conducteur de brouette transportant des cochons
Người đẩy xe cút-kít chở lợn
Collection de Dieulefils
************
Gửi từ Hà nội ngày 22 tháng sáu 1909
Đến Savoie
Hanoï, 22 juin 09
H. Chapuis
*************
"Les brouettes indigènes méritent une description spéciale ; elles sont entièrement construites en bois et leurs différentes pièces sont retenues avec des chevilles, également en bois ; elles munies commes les nôtres de deux pieds qui permettent de les poser d'aplomb à terre, mais elles en diffèrent absolument au point de vue du mode de répartition de la charge. La brouette indigène est disposée de telle façon que le chargement pèse le moins possible sur les bras qui la conduisent : la roue est placée non pas en avant de la charge , comme dans nos brouettes européennes, mais au-dessous. Dans ces conditions, et comme cette roue est assez haute, la plate-forme qui supporte le chargement est sur un plan relativement élévé par rapport aux montants. Il en résulte qu'il faut une certaine habitude pour conduire cette brouette bien en équilibre lorsqu'elle est chargée. Nos soldats ne peuvent y parvenir sans de grands efforts et sans verser à chaque instant. Les Annamites, au contraire, habitués, en marchant avec leurs grandes balances suspendues au bambou, à tenir compte de tous les effets de l'équilibre, tirent de leur brouette un excellent parti."
(Docteur Hocquard, Une campagne au Tonkin, Arléa, Paris, 1999, p.248)

vendredi 27 mars 2009

Une demoiselle tonkinoise

Une Tonkinoise


6. TONKIN - Jeune femme en costume blanc
Thiếu phụ trong trang phục trắng
Collection de Dieulefils
*****
Gửi từ Hà nội ngày 11 tháng ba 1911
Đến Carpentras, Vaucluse


jeudi 26 mars 2009

Partilha do Mundo

Phân chia Thế giới

#672. 200 escudos đúc năm 1994


****************************
Đường phân định trên bình đồ của Cantino (1502)

Tratado de Tordesilhas

Hiệp ước Tordesillas


#671. 200 escudos đúc năm 1994


**************************

Hiệp ước Tordesillas


Hiệp ước Tordesillas là một hiệp ước giữa Tây-ban-nha và Bồ-đào-nha, ra đời vào cuối thế kỉ XV nhằm mục đích chia Thế giới Mới, nơi được xem như terra nullius (đất vô chủ). Theo hiệp ước này, Thế giới Mới được phân chia bằng đường phân định là một kinh tuyến nam-bắc cách quần đảo Cap-Vert (hồi đó thuộc về Bồ-đào-nha) 370 hải lí (1770 km), đường kinh tuyến này hiện ở 46° 37' tây. Hiệp ước này được soạn thảo tại Tordesillas, xứ Castille (nay là tỉnh Valladolid, Tây-ban-nha). Bản tiếng Castille của hiệp ước này được vua Ferdinand đệ nhị xứ Aragon và nữ hoàng Isabelle đệ nhất xứ Castille phê chuẩn ngày mồng 2 tháng bảy 1494 tại Castille. Bản tiếng Bồ-đào-nha được vua Jean đệ nhị của Bồ-đào-nha kí ngày mồng 5 tháng chín cùng năm tại Setúbal. Theo hiệp ước Tordesillas, vương quốc Castille cùng quần đảo Canaries thuộc về triều đình Tây-ban-nha, còn các đảo Madère (Madeira), Porto Santo, quần đảo Açores, quần đảo Cap-Vert cũng như quyền chinh phục vương quốc Fez hoặc Fès (vương quốc Maroc) và quyền đi lại bằng đường biển ở phía nam đường vĩ tuyến chạy qua quần đảo Canaries thuộc về triều đình Bồ-đào-nha. Vùng đất Brasil được khám phá trước khi hiệp ước này được kí kết, vì thế nó thuộc về chủ quyền của Bồ-đào-nha. Hiệp ước Tordesillas giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh từ việc Christophe Colomb khám phá ra Thế giới Mới. Vào năm 1481, sắc lệnh Æterni regis của giáo hoàng công nhận rằng nước Bồ-đào-nha được hưởng tất cả các phần đất ở phía nam quần đảo Canaries. Tuy nhiên, đến tháng năm 1493, giáo hoàng Alexandre VI, một người có sinh quán tại Tây-ban-nha, lại ban hành sắc lệnh Inter cætera trong đó qui định rằng các miền đất mới được khám phá nằm ở phía tây đường kinh tuyến cách quần đảo Cap-Vert 100 hải lí thuộc về Tây-ban-nha, các miền đất ở phía đông là của Bồ-đào-nha. Bản sắc lệnh này không đề cập đến những vùng đất lúc đó đã nằm dưới sự cai trị của một quốc gia Công giáo. Vua Jean đệ nhị của Bồ-đào-nha không bằng lòng với sắc lệnh này vì nó trao cho ông quá ít đất và ngăn cản ông chiếm hữu xứ Ấn-độ, một mục tiêu ngắn hạn của ông (kể từ 1493, các nhà thám hiểm Bồ-đào-nha mới chỉ đến được bờ biển Đông Phi.). Vì thế, ông bắt đầu tiến hành thương lượng với vua Ferdinand và nữ hoàng Isabelle của Tây-ban-nha với lí do rằng đường phân định này chia tách địa cầu và có thể hạn chế những tham vọng của người Tây-ban-nha ở Á châu. Mục đích của vua Bồ-đào-nha là muốn dịch đường phân định về phía tây và ông đã thành công. Bồ-đào-nha đã khẳng định chủ quyền trên những vùng đất mới được khám phá cách xa quần đảo Cap-Vert đến 370 hải lí về hướng tây. Hiệp ước Tordesillas hoàn toàn chống lại các sắc lệnh của giáo hoàng Alexandre VI cho nên nó bị giáo hoàng Jules II cấm qua sắc lệnh Ea quae đề ngày 24 tháng giêng 1506. Những vùng đất mới này vẫn ít được biết đến và được xác định bằng những phương pháp ước chừng, điều trên lí thuyết công nhận người Tây-ban-nha sở hữu toàn bộ châu Mĩ. Tuy nhiên, Pedro Álvares Cabral đã tình cờ khám phá ra Brasil khi trên đường đến Ấn-độ năm 1500, cho nên phần phía đông của lục địa này được trao cho Bồ-đào-nha. Một số sử gia cho rằng người Bồ-đào-nha biết đến vùng Nam Mĩ rộng lớn mà phần lớn diện tích là xứ Brasil từ trước thời điểm kể trên, vì vậy việc Cabral đặt chân lên Brasil không phải là điều tình cờ. Hơn nữa, đường phân định không được tôn trọng triệt để và người Tây-ban-nha không có phương tiện để bảo đảm sự phân chia này nên họ không thể ngăn được người Bồ-đào-nha mở rộng đất đai vượt ra khỏi đường phân định. Các cường quốc hàng hải châu Âu khác như Pháp, Anh, Hà-lan,vv bị từ chối mọi quyền lợi ở những vùng đất mới này cho nên, vào thời gian đầu, họ chỉ có thể hành nghề cướp biển và buôn lậu nhằm kiếm lời từ Thế giới Mới vô cùng trù phú trước khi họ, với sự giúp đỡ của đạo Tin lành, bác bỏ quyền lực của giáo hoàng. Về phần mình, vua François đệ nhất của Pháp từng yêu cầu được xem một điều trong bản di chúc của Adam, người đã loại ông ra khỏi vụ chia chác đất đai này.

Hiệp ước Tordesillas trở thành vô nghĩa từ 1580 đến 1640 khi vua Tây-ban-nha cũng là vua Bồ-đào-nha, và nó bị thay thế bằng Hiệp ước Madrid 1750, theo đó Bồ-đào-nha được trao quyền kiểm soát những vùng đất mà nước này chiếm được ở Nam Mĩ. Tuy nhiên, hiệp ước mới mau chóng bị người Tây-ban-nha bác bỏ.

Các văn bản gốc của Hiệp ước Tordesillas hiện được lưu giữ tại Archivo General de Indias (Tây-ban-nha) và tại Arquivo Nacional da Torre do Tombo (Bồ-đào-nha).

Mặt trước của tờ số 6 trong bản Hiệp ước Tordesillas, tài sản của Thư viện Quốc gia Bồ-đào-nha.

Nguồn: wikipedia

lundi 23 mars 2009

Morte no mar

Chết trên biển




Mặt sau của đồng xu này miêu tả cảnh một trận bão lớn. Biển cả trở nên hung tợn với những con sóng lớn tựa những sợi chão khổng lồ đang kéo siết một chiến thuyền mang biểu tượng của Hoàng-gia Bồ-đào-nha xuống đáy đại dương.


#716. 200 escudos đúc năm 1999

**********************************

Trong cuốn "La couronne et la lyre", một tuyển tập thơ Hi-lạp cổ do Marguerite Yourcenar chọn dịch từ tiếng Hi-lạp, có ba bài thơ mang nội dung khá tương đồng với chủ đề của đồng xu trên. Xin chép lại đây hầu những ai biết tiếng Pháp.

****
Trois poèmes du même sujet extraits de "La couronne et la lyre" par Marguerite Yourcenar sont retapés exclusivement pour des francophones.

Tombeau d'un naufragé

Embarquez-vous sans peur. La mer causa ma mort,
Mais d'autres ce jour-là, sont arrivés au port.
THÉODORIDAS - Anth. Pal.,VII, 282.

***
Tombe d'un noyé

Bonne chance sur mer, ô hardis matelots!
Mais sachez que jadis je péris sous les flots.
Épigramme funéraire attribuée à Platon - Anth. Pal., VII, 269.

***
Sur la tombe d'un noyé

Comment t'appelais-tu? Pauvre homme, on t'a trouvé
Rejeté par la mer et des vagues lavé.
Léotichos pour toi fit poser cette pierre.
Soins pieux. J'ai vu couler des pleurs de sa paupière.
Pour toi? Pour lui plutôt, car son métier amer
L'expose tous les jours au péril de la mer.
CALLIMAQUE - Anth. Pal., VII, 277.
















dimanche 22 mars 2009

Duarte Pacheco Pereira

Duarte Pacheco Pereira
(*1460? - †1533)


#719. 200 escudos đúc năm 1999



*************


Duarte Pacheco Pereira là con trai của João Pacheco và Isabelle Pereira. Cụ tổ của ông là Diogo Lopes Pacheco, lãnh chúa vùng Ferreira de Alves, người đã ám sát Inês de Castro rồi sau đó bỏ trốn sang Tây-ban-nha và trở về vào thời Chúa Avis, lấy lại được toàn bộ gia tài và trở thành một cố vấn cho triều đình mới.

Năm 1455, người ta nhận thấy Pacheco là một người có học thức, và ông được hưởng học bổng của nhà vua. Năm 1588, ông thám hiểm bờ biển tây Phi. Pacheco Pereira bị bệnh sốt vàng da trong chuyến đi đó còn chiếc tàu bị đắm. Ông được Bartolomeu Dias, người đang trên đường quay về Bồ-đào-nha sau chuyến đi vòng quanh Mũi Hảo-vọng lần thứ nhất, cứu sống trên đảo Hoàng-tử (l'Île du Prince) trong vịnh Ghi-nê. Những kiến thức Pacheco Pereira học hỏi được từ chuyến thám hiểm của Dias và của chính ông đã giúp ông nhận được vị trí người phụ trách lĩnh vực địa lí chính thức của triều đình Bồ-đào-nha. Ngày mồng 7 tháng sáu 1594, với tư cách là contínuo (một chức vụ tương tự chưởng khế hoặc tổng thư kí) của văn phòng nội các vua Bồ-đào-nha, ông đã tham gia kí Hiệp ước Tordesillas với triều đình Tây-ban-nha. Đây là một hiệp ước có nội dung chia chác phần thế giới không theo đạo Thiên chúa giữa hai cường quốc trên biển là Tây-ban-nha và Bồ-đào-nha song nó bị giáo hoàng ngăn cấm. Năm 1498, Pacheco Pereira nhận nhiệm vụ do vua Manuel đệ nhất giao thực hiện một chuyến thám hiểm được tổ chức bí mật nhằm mục đích thám sát các khu vực đã xác định vị trí ở bên ngoài đường phân định theo Hiệp-ước Tordesillas. Chuyến thám hiểm này khởi hành từ quần đảo Cap-Vert, theo một số người thì có lẽ nó đã dẫn đến việc ông khám phá ra xứ Brasil, ở khoảng giữa vùng Maranhão và Pará, trong khoảng thời gian giữa tháng mười một và tháng chạp cùng năm. Từ vùng đất này, có lẽ ông đã đi lên bờ biển phía bắc và đến đồng bằng sông Amazone cũng như đảo Marajó. Các nghiên cứu gần đây chứng minh rằng chắc chắn Pacheco Pereira đã khám phá ra Brasil vào năm 1498, hai năm trước chuyến đi đến miền đất này do Pedro Álvares Cabral thực hiện, ông này vẫn được coi là người Âu đầu tiên khám phá ra Brasil. Tuy nhiên, triều đình Bồ-đào-nha đã giữ kín bí mật trên vì nó vi phạm những điều lệ liên quan đến chuyện thám hiểm và khẳng định chủ quyền lãnh thổ do hai đế quốc đặt ra.

Năm 1503, Pacheco Pereira chỉ huy con tàu buồm Espírito Santo thuộc hạm đội của Albuquerque nhằm hướng Ấn-độ. Ông ở lại Cochin cùng một trăm năm mươi người Bồ-đào-nha dưới quyền và một số người bản xứ để bảo vệ một thương điếm của Bồ-đào-nha khỏi cuộc bao vây do năm chục nghìn quân của người cai trị xứ Calicut thực hiện. Sau khi đảm đương chức Tổng chỉ huy hạm đội Calicut, cũng như Phó-vương xứ Malabar, Ấn-độ, ông trở về Lisboa năm 1595 và được nhà vua vinh danh.


Hạm đội Armanda, với con tàu của Duarte Pacheco Pereira


Về cuối đời, sau khi thôi chức thống đốc São Jorge da Mina, ông bị tống giam theo lệnh của João đệ tam về tội buôn lậu vàng. Tuy nhiên, cho đến ngày nay, người ta vẫn không biết được động cơ thật sự của quyết định này. Ra tù, Pacheco Pereira được nhận ba trăm cruzados như phần thanh toán cho số nữ trang ông đã mang về lúc đương chức và gửi Nhà Mỏ nấu chảy. Tai hoạ cuối đời của Pacheco Pereira có thể được hiểu do ông ở xa Lisboa và sự thành đạt của ông đồng nghĩa với việc ông có nhiều kẻ thù ở ngoại quốc trong khi đó có ít bạn hữu ở kinh đô để bảo vệ ông. Pacheco Pereira qua đời khi không có người thân bên cạnh và không một xu dính túi. Ông mất vào đầu năm 1533 và ít lâu sau, nhà vua có ban cho con trai ông là João Fernandes Pacheco một khoản trợ cấp hai vạn reais. Do các món trợ cấp của hoàng gia lúc nào cũng đến muộn, vợ và con trai ông đã phải nếm trải nhiều khó khăn, điều này khiến họ phải chạy vạy vay nợ. Huyền thoại về cái chết của Duarte Pacheco Pereira đã trở thành nguồn cảm hứng sáng tác cho nhiều nghệ sĩ Bồ-đào-nha. Một nhà sử học nước này sống lưu vong tại Brasil trong những năm 1960 đã coi ông như một bậc anh tài, người mà cách nay hơn hai thế kỉ đã tính toán độ kinh tuyến với sai số có 4%.

Theo wikipedia